bài thơ chiều hôm nhớ nhà

(Chiều Hôm Nhớ Nhà – Bà Huyện Thanh Quan) Còn con người trong thơ Bác, lại là con người lao động đầy sức sống. Chính hai từ “thiếu nữ” đã làm bừng lên sức sống của bức tranh. Cô gái miệt mài xay ngô và hình như cô không chú ý đến những gì xung quanh mình. Sưu tầm những bài Thơ Về Hoa Dã Quỳ đặc sắc nhất cho bạn. Thơ Về Cây Bưởi Hay. Cùng thưởng thức những bài thơ hay về cây bưởi dưới đây cùng chúng tôi nhé. Trồng Cây Bưởi Sưu tầm. Anh ơi! Em chẳng trồng hoa hồng. Hoa thì đẹp đấy. Quả thì không. Từ mai em sẽ. 13 Thơ Về Hoa Chiều Tím Thú Vị; 14 Bài Thơ Hoa Tím Ngày Xưa Hoài Niệm; 15 Bài Thơ Hoa Tím Thủy Chung Hay; 16 Bài Thơ Hoa Tím Đợi Chờ Ý Nghĩa; 17 Bài Thơ Hoa Tím Và Em Hay Nhất; 18 Bài Thơ Bằng Lăng Tím Độc Đáo; 19 Bài Thơ Hoa Tím Lục Bình Mới Lạ; 20 Bài Thơ Hoa Tim Vỡ Ý Nghĩa Atm Online Lừa Đảo. Trong làng thơ Việt Nam, có những nữ sĩ để lại cho thơ ca dân tộc những dấu ấn đẹp. Nếu thơ Hồ Xuân Hương tài ba, ngạo mạn thì thơ bà Huyện Thanh Quan lại trang nhã, trữ tình và duyên dáng. Đọc thơ bà, ta thấy nỗi buồn man mác, tâm trạng hoài cổ thật thanh cao đượm sự cô đơn, trống vắng. Một trong những bài thơ đó là tác phẩm Chiều hôm nhớ nhà. Tìm hiểu bài thơ ta sẽ thấy tài thơ điêu luyện của Bà Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn Gác mái, ngư ông về viễn phố Gõ sừng, mục tử lại cô thôn Ngàn mây gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồn Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn Ở hai câu đề, khoảng thời gian là trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn. Ánh sáng vẫn còn đó, nhưng chỉ còn là ánh lờ mờ của ngày tàn và đêm sắp tới. Câu thơ chỉ giới thiệu thời gian mà người đọc như cảm thấy cả không gian một vùng quê rộng lớn. Trước thiên nhiên ấy, giữa trời và đất, có một cái gì đó tràn ngập con người nhạy cảm. Buổi chiều là thời gian dễ buồn nhất và đó cũng là khoảng thời gian thường xuất hiện trong thơ của bà Huyện Thanh Quan. Con người trong cuộc sống hỗn độn, ồn ào vẫn có một lúc nào đó trở về với cái bình yên muôn thuở của thiên nhiên, về với chính lòng mình. Và lúc này chính là khoảnh khắc đó của nữ sĩ. Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn Âm thanh từ xa vẳng đến như thúc giục, nhưng vẫn có cái trầm lặng trong đó báo hiệu cho mọi người ngày sắp hết. Ta như gặp một nét thân quen, man mác của câu ca dao Chiều chiều ra đứng ngõ sau Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều. Tâm trạng của tác giả đã phần nào được ngầm hiểu trong cách lựa chọn thời gian, không khí và thanh âm. Trong cảnh chiều, trong tiếng gọi tàn ngày đó, con người hiện ra Gác mái, ngư ông về viễn phố Gõ sừng, mục tử lại cô thôn. Câu thơ với nhịp 2/5 làm cho ta có cảm giác hoạt động con người đang giảm dần, đang đi tới kết thúc. Phép đối rất chuẩn cùng với những từ Hán Việt đã góp phần tạo nên vẻ trang nhã, cổ kính của hai câu thơ gợi tả này. Trước cảnh thiên nhiên to lớn, con người thật nhỏ, yếu thế và có phần đơn độc. Đó cũng là đặc điểm của thơ Thanh Quan. Gặp cảnh và người ở đây ta không thể không liên tưởng đến cảnh và người. Lom khom dưới núi, tiều vài chú Lác đác bên sông, chợ mấy nhà Trong Qua đèo Ngang của cùng tác giả, cảnh và người đều vậy lặng lẽ, đượm buồn. Ta có cảm giác nhà thơ cũng đang lặng lẽ, thẩn thờ. Và con đường trước mắt bà thì sao, hai câu luận đã vẽ ra khung cảnh Ngàn mây gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồn Khoảng đường trước mắt như vô tận. Chim bay mỏi mà chưa tới nơi, khách bước dồn mà chưa tới chốn. Con đường đi hay con đường đời đang dàn trải? Phép đối từng cặp hình ảnh ngàn mây dặm liễu, gió cuốn - sương sa, chim bay mỏi - khách bước dồn làm ý thêm nhấn mạnh. Những từ ngữ bước dồn, bay mỏi cho thấy tâm trạng chán chường, mỏi mệt của nhà thơ. Tâm trạng ấy tất dẫn đến hai câu thơ kết thúc Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn Không có ai để tâm sự, trời đất thì bao la, vắng lặng, trống trải, khiến tác giả quay về với nội tâm, với lòng buồn sẵn có của mình. Câu thơ cuối, vừa như một câu cảm, vừa như một câu hỏi. Ta đã từng bắt gặp những câu thơ tài ba đó trong thơ bà Dừng chân đứng lại, trời non nước Một mảnh tình riêng, ta với ta Qua đèo Ngang Và Cảnh đấy, người đây luống đoạn trường Thăng Long hoài cổ Qua đó, ta càng hiểu được nỗi niềm tâm sự của tác giả. Mang tiếng nói của tầng lớp quý tộc phong kiến đang trên đường suy thoái, thơ Thanh Quan biểu hiện một khía cạnh tư tưởng của văn chương thế kỉ 18 - 19, phản ánh tâm tư của lớp nho sĩ chán nản bế tắc. Tiếng thơ đó cũng biểu hiện tâm trạng hoài cổ, thiết tha nhớ nhà Lê đã suy vi. Phải chăng đó cũng là tâm tình của tập đoàn phong kiến đã hết thời vàng son, hết vai trò lịch sử? Đặt bài thơ của nữ sĩ vào bối cảnh lịch sử như thế, ta có biểu hiện sâu thêm cái buồn trong lòng bà cái buồn thời đại. Thơ bà buồn, nhưng không vì thế mà mất vẻ đẹp gợi cảm. Trái lại, nhờ vậy càng tăng thêm phần đặc sắc. Thơ bà đẹp một cách trầm lặng như chính tâm hồn bà. Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan mãi mãi đưa đến cho chúng ta những cảm xúc chân thành, đậm đà trước nét buồn thanh tao, đưa đến những suy nghĩa sâu xa hơn về con người và xã hội. Một bài thơ đóng lại nhưng còn mở ra, tạo nên một dư âm trong lòng người đọc. Trích Tất cả Lớp 12 Lớp 11 Lớp 10 Lớp 9 Lớp 8 Lớp 7 Lớp 6 Lớp 5 Lớp 4 Lớp 3 Lớp 2 Lớp 1 Cho bài thơ sau và trả lời câu hỏi + Giải thích nghĩa của các từ đó."Chiều hôm nhớ nhàChiều chiều bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa vẳng trống đềnGác mái ngư ông vào viễn phốGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mai gió cuốn chim bay mỏiDẵm liệu sương sa khách bước dồnKẻ trốn Trương Đài, người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn ôn." Đề bài Tìm từ Hán Việt trong bài thơ sau. Em hiểu nghĩa của các từ đó như thế nào? Theo em các từ Hán Việt sẽ đem đến cho bài thơ một không khí như thế nào? Chiều hôm nhớ nhàChiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa lẫn trống dồnGác mái ngư ông về Viễn PhúGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mây gió cuốn chim bay mỏiDăm liễu sương sa khách bước dồnKế chốn Chương Đài người Lữ thứ Từ Hán Việt hoàng hôn,xa, ngư ông, viễn phố, mục tử, cô thôn, mai, liễu, sương, khách, Chương Đài, lữ thứ, hàn Hán Việt đem lại sắc thái trang trọng , sắc thái tao nhã, sắc thái khái quát và trừu tượng , sắc thái cổ . Chúc bn học tốt !!! Đề bài Tìm từ Hán Việt trong bài thơ sau. Em hiểu nghĩa của các từ đó như thế nào? Theo em các từ Hán Việt sẽ đem đến cho bài thơ một không khí như thế nào? Chiều hôm nhớ nhàChiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa lẫn trống dồnGác mái ngư ông về Viễn PhúGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mây gió cuốn chim bay mỏiDăm liễu sương sa khách bước dồnKế chốn Chương Đài người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn mk vs nha mọi người. Thanks mọi người nhìu!!! Từ Hán Việt bảng lảng, hoàng hôn, ngư ông, viễn phố , cô thôn , mục tử_Từ Hán -Việt sẽ đem đến cho bài thơ 1 ko khí + Sắc thái trang trọng+ Sắc thái tao nhã+ Sắc thái khái quát và trừu tượng+ Sắc thái cổ Đề bài Tìm từ Hán Việt trong bài thơ sau. Em hiểu nghĩa của các từ đó như thế nào? Theo em các từ Hán Việt sẽ đem đến cho bài thơ một không khí như thế nào? Chiều hôm nhớ nhàChiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa lẫn trống dồnGác mái ngư ông về Viễn PhúGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mây gió cuốn chim bay mỏiDăm liễu sương sa khách bước dồnKế chốn Chương Đài người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn mk vs nha mọi người. Thanks mọi người nhìu!!! Theo mình thì cậu tìm từ nào thuộc Ấn Âu thì loại nó ra , còn nhiêu là từ Hán ViệtMình không chắc , xin lỗiChúc bạn học tốt ! Đề bài Tìm từ Hán Việt trong bài thơ sau. Em hiểu nghĩa của các từ đó như thế nào? Theo em các từ Hán Việt sẽ đem đến cho bài thơ một không khí như thế nào? Chiều hôm nhớ nhàChiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa lẫn trống dồnGác mái ngư ông về Viễn PhúGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mây gió cuốn chim bay mỏiDăm liễu sương sa khách bước dồnKế chốn Chương Đài người lữ thứGiúp mk vs nha mọi người. Thanks mọi người nhìu!!! Hãy giải thích nghĩa của các từ gạch chân. Các từ Hán Việt tạo sắc thái gì cho bài trời bảng lảng bóng Hoàng hônTiếng ốc xa đưa lẩn trống đồn Gác mái ngư ông ngư về viễn phốGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mai giờ cuốn chim bay mỏiDặm liễu sương xa cách bước đồnKẻ chốn Chương Đài người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn ôn. hoàng hônkhoảng thời gian mặt trời mới lặn,ánh sáng yếu ớt và mờ dần-ngư ôngngười đàn ông làm nghề đánh cálữ thứxa quê-hàn ônrét và ấmchuyện hàn ôn là chuyện lúc gặp nhau kể lể tin tức thân mật CHIỀU HÔM NHỚ NHÀTrời chiều bảng lảng bóng hoàng ốc xa đưa vẳng trống mái, ngư ông về viễn sừng mục từ lại cô mai gió cuốn chim bay liễu sương sa khách bước chốn Chương Đài, người lữ ai mà kể nỗi hàn ôn?Chiều hôm nhớ nhà là một đề tài quen thuộc, được nói đến trong nhiều bài thơ nổi tiếng như Hoàng hạc lâu của Thôi Hiệu, Ngắm cảnh chiều ở Hán Dương của Nguyễn Du. Nhưng với Bà Huyện Thanh Quan, chủ đề đó đã được ghi dấu ấn đậm nét bằng một phong cách sử dụng từ Hán đầu bài thơ, nhà thơ lựa chọn những tín hiệu thẩm mỹ đặc trưng của thời gian chiều tà hoàng hôn của thiên nhiên và hoàng hôn của cuộc sống con người. Từ hoàng hôn không chỉ để thông báo khoảng thời gian chen lấn giữa đêm và ngày mà nó còn tạo nên cảm giác về một thiên nhiên vắng vẻ và buồn. Cuộc sống của con người được tác giả ghi lại bằng hai chi tiết của cảnh chiềuGác mái ngư ông về viễn sừng mục tử lại cô điệu câu thơ chậm rãi, ngắt thành 3 nhịp Gác mái/ ngư ông/ về viễn phố - Gõ sừng/mục tử/ lại cô thôn. Sự đối xứng giữa các từ ngữ, hình ảnh làm cho cảnh sinh hoạt ở đây có sự vận động nhưng vẫn man mác buồn. Cái hay của bài thơ là ở chỗ từ hình ảnh quen thuộc của ông lão đánh cá và trẻ chăn trâu, nơi bến xa, thôn vắng đã được tác giả sử dụng bằng những từ Hán Việt trang trọng ngư ông, viễn phố, cô thôn, tạo nên không khí tĩnh lặng, cảnh chiều thêm tĩnh mịch và ẩn chứa một nỗi niềm man mác, bâng khuâng của lòng người. Trong cảnh thiên nhiên buồn vắng đó xuất hiện hình ảnh của con ngườiNgàn mai gió cuốn chim bay liễu sương sa khách bước cánh chim vội vã cố gắng bay về rừng tìm chốn ngủ, khách bộ hành cũng bước gấp về nơi trú ngụ. Hai câu thơ cũng đối rất tề chỉnh ngàn mai/ dặm liễu, gió cuốn/ sương sa. Sự đối xứng này làm nổi bật lên nỗi mệt nhọc và sự cố gắng trong cảnh chiều lặng lẽ của khách đường xa. Thông thường cảnh chiều gợi lên hình ảnh hứa hẹn sự sum họp, đầm ấm, nhưng trong bài thơ, tác giả sử dụng các từ Hán Việt ngàn mai, dặm liễu gợi lên cảm xúc xa xôi, buồn vắng, đơn chiếc. Trong hoàn cảnh đó, tâm trạng con người bộc lộ một cách rõ rệtKẻ chốn Chương Đài, người lữ ai mà kể nỗi hàn ôn?Kẻ và người đều là những đại từ phiếm chỉ, chủ thể trữ tình được ẩn chứa đằng sau nó. Tuy nhiên, qua đây ta có thể nhận thức được về chủ thể trữ tình – nhà thơ đang trong cảnh sinh ly, bao trùm tất cả là nỗi buồn sinh ly. Và nỗi buồn sinh ly đó được tạo nên bởi từ Hán Việt lữ thứ. Chỉ có những người đi xa sống nơi đất khách quê người mới rơi vào tâm trạng cô đơn buồn vắng như vậy. Kết thúc bài thơ là câu thơ thể hiện nỗi khao khát được tâm sự, giải bày. Biết ai hiểu cho nỗi lạnh ấm của lòng người, của nhân tình thế thái. Bài thơ tả cảnh ngụ tình, từ việc tả cảnh chiều muộn ở nơi xa, tác giả thể hiện nỗi nhớ quê nhà và nỗi niềm trắc ẩn trước nhân tình thế thái, không người tri âm tri kỷ. Tất cả được giãi bày qua những vần thơ trữ tình buồn man mác. Cái độc đáo của bài thơ là nữ thi sĩ đã sử dụng rất thành công hệ thống các từ Hán Việt, làm cho bài thơ trở nên trang nhã, thanh tao mà sâu phê bình Phan Ngọc nhận xét “... Bà Huyện Thanh Quan trong bài Chiều hôm nhớ nhà đã đẩy lùi bức tranh vào thế giới của tâm tưởng, của ý niệm... Các từ Hán Việt nữ thi sĩ dùng đẩy ta vào thế giới muôn đời. Trên đời chỉ có những ông chài, những thôn vắng, những kẻ chăn châu, những bến xa, những người ở đài cao, những người khách trọ, cảnh lạnh ấm của cuộc đời. Làm gì có những ngư ông, những viễn phố, những mục tử, những cô thôn? Làm gì có trang đài, người lữ thứ, nỗi hàn ôn? Không những thế, các từ Hán Việt đều đặt vào vị trí quyết định giá trị câu thơ câu cuối vần để gây tiếng vọng trong tâm hồn ta. Cuối nhịp ở âm tiết 4 để bắt người ta dừng lại ở đây... Nghệ thuật là sự lựa chọn cực kỳ công phu. Bằng cách này, bà Huyện Thanh Quan kéo ta về với cõi vĩnh viễn của ý niệm và nỗi u hoài của nhà thơ, của cái kiếp người không biết đến tháng năm, thời đại, không có sự cách biệt giữa tôi và anh...” Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt – NXB Đà Nẵng 1991, trang 52,53.Đề tài hoài cổ, cảm hứng hoài niệm về một thời đại huy hoàng đã đi qua đã được bà Huyện Thanh Quan thể hiện qua bài Thăng Long thành hoài cổ với thơ thất ngôn - một trình độ ngôn ngữ tinh tế, điêu luyện, chuẩn xác để miêu tả sự vật, biểu hiện tâm tư. Bài thơ một lần nữa khẳng định phong cách thơ thanh nhã, trang trọng của bà khi tác giả sử dụng thành công một hệ thống từ Hán Việt. Cũng như ở bài thơ Chiều hôm nhớ nhà, ở bài thơ này phần lớn các từ Hán Việt được đặt vào vị trí quyết định giá trị của câu thơ từ cuối câu, để lại những dư âm thấm vào tâm hồn người đọcTạo hóa gây chi cuộc hí trườngĐến nay thấm thoắt mấy tinh sươngLối xưa xe ngựa hồn thu thảo,Nền cũ lâu đài bóng tịch dương,Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,Nước còn cau mặt với tang năm gương cũ soi kim cổ,Cảnh đấy người đây luống đoạn đầu bài thơ, nhà thơ nêu lên một quan niệm về thế lực siêu nhiên vạn năng. Để thể hiện sự quan trọng đó, tác giả không dùng từ ông trời mà dùng từ tạo hóa. Tạo hóa chi phối nhân sinh thế sự, xoay vần cuộc sống xã hội và số phận con người. Tất cả như luôn biến đổi, luôn bị thay thế như một sân khấu diễn trò, lớp này kế tiếp lớp khác và từ Hán Việt hí trường như khắc đậm thêm điều đó. Thực vậy, thời đại lịch sử mà bà Huyện Thanh Quan sống là thời khủng hoảng suy tàn của chế độ phong kiến. Có thể nói đây là nguyên nhân tạo nguồn cảm hứng hoài cổ nơi bà. Tuy nhiên sự gắn bó của bà với triều đại cũ không sâu sắc và mật thiết như Nguyễn Gia Thiều hay Phạm Thái nên thái độ hoài cổ của bà nhẹ nhàng, thanh thoát hơn. Mặc dù vậy, hai câu mở đầu vừa là câu hỏi vừa là câu tán thán với cách sử dụng thành công từ Hán Việt đã ẩn chứa một nỗi niềm luyến tiếc kín đáo của nhà hai câu thực, nhà thơ thể hiện tài nghệ điêu luyện của mình trong việc lựa chọn từ ngữ kết hợp tài tình từ thuần Việt và Hán Việt trong một hệ thống niêm luật chặt chẽ. Nhà thơ đã khéo léo chọn hai hình tượng không gian, cảnh vật có tính cách đối thêm Thông Tin Lịch Chiếu Ngày Phát Sóng Đấu Phá Thương Khung Phần 5 Bảo Giờ Ra Mắta. Lối xưa xe ngựa / Nền cũ lâu đàib. Hồn thu thảo / Bóng tịch dươngHệ thống a. là hình ảnh của không gian nhân tạo, hệ thống b. là hình ảnh của không gian thiên tạo. Không gian nhân tạo không chống chọi nỗi thời gian và đã thuộc về thời gian quá khứ. Những hình ảnh còn lại chỉ là những tàn dư của một quá khứ hoàng kim. Dưới bước đi mạnh mẽ của thời gian, dường như chỉ có cảnh vật thiên nhiên là có khả năng tồn tại, nhưng đó cũng là sự tồn tại trong tàn tạ bởi trong câu thơ gợi hình ảnh của ngọn cỏ thu và ánh mặt trời. Cỏ thu đã trở thành hồn thu thảo và mặt trời chỉ là bóng tịch dương. Dường như ở các câu thơ này, từ Hán Việt là những nốt nhấn cho ý đồ nghệ thuật của các giả. Các cụm từ Hán Việt đã tạo nên những hình bóng không gian mang màu sắc cô liêu tàn tạ. Sự lựa chọn và kết hợp từ độc đáo trên đã tạo nên sự “hòa âm” giữa quá khứ và hiện hai câu luận, tác giải tiếp tục diễn đạt nỗi niềm hoài cổ trước sự đổi thay qua hình tượng đá trơ gan, nước cau mặt. Đá, nước là biểu tượng của dòng chảy bất tận của vũ trụ và nhân sinh, nhưng ở đây lại mang ý nghĩa phúng dụ cho tâm trạng phủ nhận, chống chọi lại sự đổi thay. Ở hai câu thơ này, nhà thơ lại sử dụng tuế nguyệt, tang thương mang ý nghĩa khái quát rất cao, tạo nên sức gợi cảm cho bài thúc bài thơ là một tiếng thở dài tuy nhẹ nhàng nhưng xuất phát từ tâm canNgàn năm gương cũ soi kim cổ,Cảnh đấy người đây luống đoạn bài Độc Tiểu Thanh ký, Nguyễn Du cũng từng viếtNỗi hờn kim cổ trời khôn hỏiĐể nói về những sự phi lý ở đời như là một quy luật, thì ở trong bài thơ này, với từ Hán Việt kim cổ nhà thơ cũng khái quát lên chuyện hưng phế như là một chân lý ngàn đời không thể thay đổi được. Vì thế, kết thúc bài thơ là một nỗi đau, nỗi bi thương và luyến tiếc về một thời xưa cũ. Đoạn trường là một từ Hán Việt được nhà thơ dùng rất đắt để kết tụ lại nỗi đau vậy, Thăng Long thành hoài cổ là một mẫu mực về nhiều phương diện trong tác phẩm văn học về đề tài hoài cổ. Đặc biệt đề tài hoài cổ cảm hứng hoài niệm về một thời đại huy hoàng đi qua nói trên đã được thể hiện qua một bài thơ thất ngôn ngắn gọn, nhẹ nhàng mà tha thiết. Bài thơ càng trở nên trang trọng hơn khi bà khéo léo kết hợp hệ thống từ Hán Việt ở mỗi dòng thơ để tạo nên âm vang của bài thơ. Nhận xét về bài thơ trên, Tiến sĩ Ngôn ngữ học Hoàng Tất Thắng đã viết “Thăng Long thành hoài cổ là sự hoài cảm về quá khứ, về một thời vàng son đã qua. Hình ảnh trong bài thơ là hình ảnh của ký ức, của tâm tưởng, của những âm vang Hán tự...”.Với những thành công trên Thăng Long thành hoài cổ xứng đáng là một bài thơ hay của thơ ca thời Trung đại Việt thể nói rằng, Chiều hôm nhớ nhà và Thăng Long thành hoài cổ là hai bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ của Bà Huyện Thanh Quan - một phong cách trang nhã, lịch lãm và sâu lắng. Đây cũng là những bài thơ hay về đề tài hoài cảm - hoài cổ trong thơ ca Việt Nam Trung đại. Điều làm nên giá trị nổi bật trong thi phẩm của bà được kết tinh bởi nhiều yếu tố mà trong đó phần quan trọng là sự sáng tạo của nhà thơ trong việc sử dụng và kết hợp một cách tài tình hệ thống từ Hán Việt. Thực vậy, yếu tố từ Hán Việt trong hai bài thơ đã thực sự mang lại cho người đọc một sự cảm nhận tinh tế về tình cảm, nỗi niềm, tài năng và nhân cách của bà Huyện Thanh Quan. Điều đáng nói ở đây không phải là sự xuất hiện ít hay nhiều từ Hán Việt trong mỗi bài thơ, mà là cách sử dụng điêu luyện của nhà thơ đã làm nên giá trị nghệ thuật đích thực cho toàn thi hai trăm năm đã trôi qua, vạn vật và con người có biết bao sự đổi thay, nhưng những bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan vẫn còn nguyên vẻ đẹp với sức lay động trong mỗi chúng ta nhờ việc sử dụng lớp từ Hán Việt một cách khéo léo, tài tình mà không phải nhà thơ nào cũng làm được.

bài thơ chiều hôm nhớ nhà